Hội làng đã mất từ lâu

Những năm cầm súng đi xa, hình ảnh mái đình, lễ hội luôn len vào nỗi nhớ. Chúng tôi cũng vì những hình ảnh ấy mà chiến đấu, hy sinh. Lớp trẻ bây giờ mỗi khi nhắc lại lễ hội của làng như nghe chuyện cổ tích ở xứ nào.

Đến hẹn lại lên, nhiều vùng quê sau những ngày Tết náo nhiệt là đến hội làng. Hầu như trên khắp đất nước ta, làng nào cũng có hội.

Văn hóa làng đã trở thành bản sắc của dân tộc. Làng là đơn vị hành chính thấp nhất trong hệ thống chính trị ngày xưa. Những luật tục của làng trở thành mối dây gắn kết các thành viên trong cộng đồng và có sức mạnh ghê gớm. Câu thành ngữ "phép vua thua lệ làng" nói lên điều đó.

Thường mỗi làng đều có một vị thành hoàng, là những vị thần có công trong việc khai hoang, mở đất, đem lại sự bình yên cho xóm làng. Thành hoàng cũng có nơi là một vị võ tướng có công đánh đuổi giặc ngoại xâm đem lại sự bình yên cho xóm làng. Cũng có khi thành hoàng là người đem đến cho làng một nghề nhất định (làng nghề) chẳng hạn như nuôi tằm dệt lụa, làng gốm, làng tranh... Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng thường được thể hiện trong các lễ hội xuân hoặc Tết cổ truyền.

Khi những hạt mưa xuân phấp phới bay, dân làng lại mở hội. Đó chính là một nét đẹp truyền thống tạo nên bản sắc làng mà sợi dây xuyên suốt là "ăn quả nhớ kẻ trồng cây". Cùng với việc thờ cúng tổ tiên thì tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đem lại cho người dân ý thức hướng về cội nguồn, về quê cha đất tổ bằng những biểu hiện sinh hoạt văn hoá truyền thống. Lễ hội thực chất là chiếc cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, là sự giao lưu văn hoá giữa các làng xóm với nhau, là nét văn hoá đặc trưng trong sinh hoạt văn hoá cộng đồng.

Làng tôi cũng vậy, ngày trước cứ sau ba ngày Tết, nhà nhà lại chuẩn bị mâm cỗ để góp với hội làng.

Trong gia phả của các dòng họ còn ghi rõ, trước đây làng vẫn là rừng rậm. Khi đức vua Lê Hoàn thắng giặc, ngài đã chú trọng đào kênh mở mang nông nghiệp, giao thương đi lại, sau này những dòng kênh ấy đều có tên chung là sông nhà Lê. Chính những con sông là nơi phát tích hình thành các làng mới.

Tươi vui hội làng

Những người khai sơn phá thạch của làng sau được thờ làm thành hoàng chính là những trai tráng từ vùng đất của Đức Thái tổ Lê Lợi (Thọ Xuân) hơn 500 năm trước theo dòng kênh tìm đất và xây dựng thành làng. Hậu duệ của những thanh niên ấy sau này có người đỗ Tiến sỹ được ghi trong Văn miếu Quốc tử giám. Đó là cụ Nguyễn Hiệu. Cụ làm quan đến chức Nông Quận công. Con trai cụ là Nguyễn Hoàn cũng đỗ Tiến sỹ và cũng có tên trong Văn Miếu, Quốc tử giám, là thầy dạy học của chúa Trinh Sâm. Sau này ông làm đến chức Nhập thị Tham tụng, Lại bộ Thượng thư kiêm hành Lễ bộ sự Hữu tư giảng, Tri Quốc Tử Giám, Tri Hàn lâm viện sự (1774) kiêm Quốc sử tổng tài. Chính các cụ là người tổ chức xây Đình, xây miếu để lại cho con cháu. Sau này khi các cụ mất dân làng xây phủ xây đền để thờ.

Trò chơi thường thấy ở nhiều hội làng Việt Nam. Ảnh: baomoi.com.
Đình làng tôi có những cây cột hai người ôm mới xuể. Phủ thì có những ông voi bằng đá cao ngất, uy nghi đứng canh ở cổng vào. Ngày chúng tôi còn bé thường vào chợ và vào Phủ để được leo lên những ông voi.

Trong con mắt lũ trẻ chúng tôi, hội làng chính là mùa xuân, mùa xuân chính là hội làng. Cứ mong ngóng đến ngày đó để mà được vui chơi thỏa thích. Ngày ấy những cờ quạt võng lộng, những đám rước quanh làng náo nhiệt lắm. Lũ trẻ thì tranh nhau được cầm cờ, đánh trống. Kiệu được rước từ làng trên xuống xóm dưới. Nhà nhà đều làm cỗ, khói hương thơm nức, len vào từng con ngõ, len vào tận mái tranh. Những trò chơi dân gian cũng được mở ra như đánh đu, đánh cờ... náo nức cả một góc trời.

Bây giờ thì những hình ảnh ấy không còn dấu vết.

Một dạo để chống lại mê tín dị đoan, những di sản của phong kiến cũng đều dẹp bỏ. Quê tôi cán bộ ngày ấy hăng hái lắm, được mệnh danh là đi đầu trong phong trào chống mê tín dị đoan. Cả một vùng Xứ Thanh, cả một dải Khu Bốn đều làm như vậy. Có nơi còn giương lên khẩu hiệu hoàng tráng "thay trời chuyển đất sắp đặt lại giang sơn". Và những đình chùa miếu mạo cũng nằm trong số phận "sắp đặt" ấy.

Những con voi của Nghè được đưa vào lò nung vôi chống chua cho đồng ruộng. Những cây cột Đình hai người ôm không xuể cùng với những Thượng lương chạm trổ tinh vi nhanh chóng được xẻ ra xây trường, đóng bàn ghế cho lớp trẻ đi học.

Và hội làng cũng mất từ đó.

Chúng tôi, những năm cầm súng đi xa, hình ảnh mái đình, lễ hội luôn len vào nỗi nhớ. Nhất là những tết đầu tiên xa nhà, chao ơi là nhớ, chỉ mong được về, dẫu một phút để mà hòa mình vào dòng người, để mà đắm mình trong tiếng chuông, tiếng trống. Và chúng tôi cũng vì những hình ảnh ấy mà chiến đấu, hy sinh.

Lớp trẻ bây giờ mỗi khi nhắc lại lễ hội của làng như nghe chuyện cổ tích ở xứ nào. Lễ hội làng bây giờ chỉ còn lại trong ký ức của lớp người già. Tôi cũng đã đi nhiều làng vùng quê Bắc bộ, những làng quê ấy vẫn như còn nguyên dấu tích của cha ông, của những dấu ấn lịch sử. Nền văn hóa vật thể và phi vật thể ấy hòa quyện vào những mái đình, những chùa chiền, miếu mạo và những câu dân ca say đắm du khách. Ở những nơi ấy mùa xuân như được kéo dài hơn, như động lại trên mỗi môi cười, trên mỗi ánh mắt. Những lúc ấy trong lòng tôi lại man mác nhớ về làng quê của mình...

Các cụ già vui ngày hội làng. Ảnh vietbao.vn.

Có nhiều thứ văn hóa lạc hậu chúng ta cần loại bỏ, nhưng khi những nét văn hóa mang ý nghĩa nhân văn, giáo dục truyền thống cần phải được vun  xới đắp bồi. Nhiều thứ mất đi vẫn còn có thể lấy lại nhưng văn hóa truyền thống để mất đi thì coi như mất vĩnh viễn.

Và Tâm hồn con người giàu có khác nhau chính là do văn hóa truyền thống của mỗi vùng quê khác nhau vun đắp mà thành. Những vẻ đẹp thanh lịch của Tràng An, của kẻ Chợ, của Xứ Đoài... tạo thành bản sắc riêng nhưng tất cả lại hòa nhập và hợp thành văn hóa truyền thống mang bản sắc Việt Nam.

Làng

Mái đình trăm năm cổ tích
Dòng sông ôm trọn vòng xanh
Chợ phiên gọi mời như rượu
Nghè - Phủ voi thành lính canh.

Xa quê những ngày lửa cháy
Trong tim mái đình, dòng sông...
Phía trước là những trận đánh
Có làng nên nhiều chiến công.

Những đứa con ngày trở lại
Đình còn một mảnh đất thôi
Chợ hóa thành khu chuồng trại
Voi đá vào lò nung vôi.

Mùa xuân không còn lễ hội
Cờ bạc kéo về khắp nơi
Tôi ra triền đê đón gió
Ứ nghẹn một dòng lệ rơi.

Rút trong tập thơ: Mùa gieo hạt

N.Đ.T
2004