Đại sứ Mỹ: 15 năm mới chỉ là khởi đầu
Trong hơn một giờ đối thoại với độc giả VietNamNet, Đại sứ Mỹ Michael Michalak phân tích mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Hoa Kỳ qua không chỉ 15 năm, cũng như những thách thức còn chờ đợi trên con đường hướng tới tương lai.
Quan hệ hai nước không chỉ có 15 năm từ khi bình thường hóa quan hệ, cái duyên của hai dân tộc cũng không phải đến năm 1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Tổng thống Harry Truman, mới có, mà theo ngài đại sứ, quan hệ này đã nảy nở từ những năm 1800 với những giao thương đầu tiên.
Nhưng mối quan hệ đáng nhẽ "có thể có hơn 100 năm lịch sử" đó lại chứa đựng một quá khứ đau thương và nhiều cơ hội đã bị bỏ lỡ. Tuy nhiên, ông Michalak khẳng định, 15 năm qua có rất nhiều ý nghĩa, không chỉ về quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước.
Ông điểm lại những mốc son trong quan hệ hai nước 15 năm qua. Sự kiện bình thường hoá quan hệ năm 1995, với những hợp tác đầu tiên trong dự án tìm kiếm lính Mỹ mất tích (POW/MIA) mà Việt Nam tham gia rất có trách nhiệm, là cánh cửa mở ra cho cả hai dân tộc.
Quan hệ này ngày càng sôi đông và thực chất với những hoạt động đàm phán Hiệp định thương mại song phương (BTA) và Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), biến thương mại, kinh tế trở thành trọng tâm trong quan hệ hai nước. Từ con số 450 triệu USD năm 1995, trao đổi thương mại song phương hiện nay đã lên đến 15 tỉ USD.
Đại sứ Mỹ Michael Michalak và nhà báo Nguyễn Anh Tuấn trong cuộc Bàn tròn trực tuyến.
Ảnh: Lê Anh Dũng
Ông Michalak cho rằng chính chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sang Mỹ năm 2008 đã đưa quan hệ hai nước chuyển sang một tính chất sâu rộng mới, với việc cùng đối thoại về chính sách quốc phòng và an ninh, lập các nhóm chuyên trách về giáo dục, nhóm làm việc về biến đổi khí hậu...
Ông cảm nhận đó là dấu hiệu cho thấy Việt Nam ngày càng xuất hiện mạnh mẽ hơn trên trường quốc tế và hy vọng chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đến Việt Nam cuối tháng 7 tới "cũng sẽ tạo ra những chuyển biến tương tự".
Ngài đại sứ khẳng định "chính quyền của Tổng thống Obama tập trung nhiều vào châu Á", bằng chứng là chuyến công du nước ngoài đầu tiên của Ngoại trưởng Clinton là đến châu Á, đến ASEAN.
Việt Nam, một trong những nước phát triển nhanh chóng ở ASEAN, được Mỹ đánh giá là "hoàn toàn có khả năng lãnh đạo khu vực". Với việc Việt Nam phát triển kinh tế mạnh mẽ, xuất hiện nhiều hơn trên vũ đài quốc tế, làm tốt các vai trò quốc tế và hội nhập sâu rộng, Việt Nam có nhiều tiềm năng trở thành đối tác tốt của Mỹ, xây dựng mối quan hệ bình đẳng, dựa trên sự tôn trọng, hiểu biết và thiện chí.
Muốn hiện thực hoá những tiềm năng đó, theo ông Michalak, Việt Nam phải "tự quyết định mình muốn gì và cần làm gì". "Trở thành lãnh đạo toàn cầu không chỉ có lợi ích mà còn có cả những trách nhiệm, Việt Nam phải quyết định mình có muốn những lợi ích và cả những trách nhiệm đó không", ngài đại sứ phân tích.
Nhưng quan hệ Việt - Mỹ không phải không còn những trở ngại chưa vượt qua được, đặc biệt là những nghi kỵ và hiểu nhầm giữa hai bên. Dân chủ đang là đòi hỏi nội tại của Đảng và của đất nước Việt Nam để tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn, nhưng cách ứng xử của Mỹ khiến không ít người cảm tưởng rằng Mỹ tìm mọi cách gây sức ép bắt Việt Nam phải có dân chủ.
Tương tự với việc cổ phần hóa, tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước và cải cách giáo dục. Thậm chí còn có người cho đây là một phần của âm mưu diễn biến hòa bình.
Trước những hiểu nhầm đáng tiếc ấy, đại sứ Mỹ cho rằng đó là do "hai bên đang cùng nói về một vấn đề mà hai bên định nghĩa và diễn giải khác nhau". Vấn đề dân chủ gây hiểu nhầm theo ông là do "có một số luật ở Việt Nam còn mơ hồ, cần được định nghĩa rõ ràng hơn, cũng như quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến của người dân cần được tạo điều kiện và phát huy mạnh mẽ hơn".
Tiến trình cổ phần hoá và tư nhân hóa doanh nghiệp, theo ông Michalak, là rất cần thiết, là việc mà Việt Nam, các thể chế tài chính quốc tế, các nhà tài trợ quốc tế đều nói đến, vì vậy "không phải Mỹ gây sức ép mà chính Việt Nam tự chấp nhận sức ép đó, và thế giới cũng thúc đẩy Việt Nam tiến hành nhanh hơn".
Còn suy nghĩ về "diễn biến hoà bình" trong giáo dục, theo ông đại sứ là "hoàn toàn nhảm nhí, không đúng sự thật". Ông phân tích, hơn 200 biên bản ghi nhớ về tăng cường trao đổi sinh viên giữa các trường đại học hai nước đều là kết quả đàm phán của các trường, không phải do sức ép nào. Số sinh viên Việt Nam sang Mỹ du học (từ 800 người năm 1995 lên 13.000 người hiện nay) chủ yếu là tự túc, chắc chắn không phải là vì sức ép của ai đó, mà vì họ muốn được hưởng một nền giáo dục tốt.
Chính các lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam, ông Michalak chia sẻ, cũng đánh giá cao chất lượng giáo dục của Mỹ và sự hợp tác trao đổi giáo dục giữa hai nước.
"Việt Nam là một nước độc lập, người Việt Nam rất thông minh, chắc chắn có thể tự quyết định, không ai có thể gây sức ép", ông Michalak nói.
Ông cũng nhắc lại 3 ưu tiên của mình khi nhậm chức đại sứ: nhân quyền, quan hệ kinh tế thương mại và hợp tác giáo dục; và nhận định "đã có những tiến bộ nhất định trong vấn đề nhân quyền nhưng chưa tốt như ở hai lĩnh vực còn lại". Quan trọng là hai bên sẵn sàng ngồi lại để nói chuyện về nhân quyền, "như những người bạn tốt cùng nói về những điều khác biệt của nhau", ông nói.
Không quan trọng việc có cần gọi tên quan hệ hai nước là "đối tác chiến lược" hay không, ông Michalak tin rằng "mối quan hệ mạnh mẽ và sôi động" mà hai nước đang có là một "quan hệ quyệt vời". 15 năm nỗ lực xây dựng sự hiểu biết và lòng tin mới chỉ là khởi đầu, "hàng trăm năm trước mắt sẽ còn tươi sáng hơn", đại sứ Mỹ khẳng định.