>> Những vết rạn trong đạo thầy trò
>> Vị giáo sư với "đôi mắt xanh"
Thầy trò thời Bắc thuộc và thuộc Pháp
Hơn 1000 năm Bắc thuộc, giáo dục Việt Nam có thể nói là phiên bản của giáo dục Trung Hoa, gắn với các triều đại phong kiến phương bắc. Triết lý Khổng tử, Nho giáo là nền tảng tri thức cơ bản trong thời kỳ này.
Mục tiêu của giáo dục thời ấy là đào tạo ra những người làm quan theo cái gọi là “phụ mẫu, chi dân”. Ở góc độ Nhà nước phong kiến, những trường học dành cho con, cháu quan lại được thiết lập, ngoài giáo dục trong trường, lớp vai trò “dòng dõi” và giáo dục gia đình chiếm một vai trò đặc biệt quan trọng.
Ngoài ra, những người theo sự nghiệp bút nghiên không đỗ đạt, hay những người không thể tiếp tục học lên thường trở về quê mở lớp và nhận học trò, người ta gọi đó là thầy đồ. Cho dù ở hình thức nào, thì tư tưởng “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” vẫn là tư tưởng thống trị và điều chỉnh mối quan hệ thầy - trò.
Xuất phát từ mục đích giáo dục, cho nên Nho học chủ yếu dạy cách làm người, dạy các luật lệ trong quan hệ, các đạo ứng xử giữa con người với con người trong thiết chế xã hội đương thời như: Quân - thần, phụ - tử, phu - thê, huynh - đệ, bằng hữu, các kiến thức về khoa học tự nhiên và KHXH khác hầu như không được chú ý.
Một thầy dạy cho vài trò, có khi thầy đưa nhà mình thành lớp học, vợ thầy thành người bảo mẫu cho học trò, vì là chỉ dạy chữ nên thầy dạy chữ nào trò biết chữ ấy, thêm nữa chữ nho vốn đa hình, đa nghĩa cho nên tùy thuộc vào mức độ xúc cảm, tình thân, sự uyên thâm và cốt cách của người thầy mà học trò được tiếp nhận cái sâu sắc, cái mênh mông, cái biến ảo của những chữ, những điều thầy dạy.
 |
|
Ảnh: dactrung.net |
Vì thế, ngày ấy người ta nhìn trò biết thầy, bên cạnh dạy chữ thầy còn truyền lại cho học trò cái cốt cách, cái tinh thần và tư tưởng của thầy.
Do đặc điểm như vậy, sự gắn bó thầy trò trong tư tưởng, văn hóa và sinh hoạt tạo nên thâm tình không khác gì cha con, mẫu tử. Đó là lý do ngày xưa người ta dạy rằng “mùng 1 tết cha, mùng 3 tết thầy” hoặc thầy mất học trò phải để tang như để tang bố, mẹ.
Khi người Pháp đô hộ Việt Nam, họ mang nền giáo dục của họ vào các nước thuộc địa, nhiều trường học được mở ra do hiệu trưởng là người Pháp điều hành, hầu hết thời kỳ này giáo dục kiểu “tây học” vẫn là dành cho tầng lớp trên trong xã hội vì phải đóng học phí cao cũng như đảm bảo các điều kiện khác trong sinh hoạt.
Tuy vậy, dưới cái nhìn của giáo dục phương Tây, đạo thầy trò trước đó đã có phần thay đổi không khuôn cứng và hà khắc như trước.
Thời kỳ này vẫn song song tồn tại cách giáo dục và các lớp học dạy chữ Nho, chữ Hán vì vậy đạo thầy trò truyền thống vẫn còn chi phối quan hệ dạy - học thời kỳ này.
Dạy học với "tinh thần cách mạng"
Sau khi dành được độc lập cho đến những năm gần cuối của thập kỷ 80 thế kỷ trước, Chính quyền cách mạng dưới sự dẫn dắt của Bác Hồ đã đặc biệt chú ý đến giáo dục nhằm nâng cao dân trí, bằng cuộc phát động “diệt giặc dốt” đã làm cho sắc thái giáo dục mang màu sắc khác hẳn.
Bên cạnh hình thức giáo dục chính quy còn có hình thức giáo dục mang tính toàn dân như các phong trào bình dân học vụ, người biết chữ dạy người chưa biết, người biết nhiều dạy người biết ít.
Người thầy lúc này dạy chữ với một tinh thần “cách mạng”, không hề coi đó là một thứ danh vị mà người học phải tôn thờ, phải cung phụng.
Ngay cả trong hệ giáo dục chính quy, với triết lý giáo dục của Đảng hầu hết các cấp học không phải đóng tiền, đi học như một lẽ tự nhiên cần phải thế, các thầy cô nêu cao tinh thần cao thượng, làm tròn sứ mệnh mà Đảng, Nhà nước giao, quan hệ thầy trò vừa sâu sát, vừa chân tình, vừa phải đạo.
Thầy yêu trò, hiểu từng hoàn cảnh, tâm tính của trò và mẫu mực trong lối sống. Trò kính thầy, nhìn thầy với con mắt ngưỡng mộ và cảm phục. Đó là thời kỳ vàng son của nền giáo dục cách mạng, chí ít trong đạo đức thầy - trò. Chính chặng đường giáo dục này đã tạo ra một thế hệ mà hiện tại có thể nói đang nắm trong tay sự nghiệp chính trị và vận mệnh của đất nước.
Khi người học là "khách hàng"
Sau cải cách đường lối kinh tế, từ tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường, kéo theo đó là sự biến đổi mọi mặt của đời sống xã hội, giáo dục cho dù vẫn cố níu giữ những cái đã qua nhưng hình như không thể che chắn nổi cơn gió thị trường. Hầu hết các cấp học phải đóng học phí, người học phải lo từ tờ giấy thi cho đến nơi ăn, chốn ở. Người học và người đầu tư cho sự học không hẳn chỉ là mở mang kiến thức, nâng cao dân trí mà có xu hướng coi đó như một cuộc đầu tư để tạo ra công cụ kiếm sống, vì vậy chọn ngành, chọn trường, chọn thầy không là cá biệt.
Mở cửa kinh tế, dẫn đến chấp nhận và tạo thêm những con đường phát triển thu nhập cho nhiều ngành nghề trong xã hội, một số ngành có thu nhập cao hơn hẳn cho dù chế độ Nhà nước giống nhau, giá cả sinh hoạt cũng được điều tiết bởi thị trường, thực tế này dẫn đến các thầy cô cũng phải tìm cách nâng cao thu nhập, từ chính thức hóa bằng học phí, dạy thêm, dạy nhiều nơi, bằng đóng góp của học sinh đến cách phi chính thức như chạy trường, nâng điểm, chạy bằng...
 |
|
Ngày nay, mối quan hệ này trước hết cần đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, dân chủ, đồng thuận và có trọng tài. Ảnh: thiepdientu.net |
Như vậy có thể thấy rõ, trong mối quan hệ thầy trò ngày nay đã len lỏi bởi một cơ chế khác, nhà trường là đơn vị cung cấp dịch vụ thông qua đội ngũ thầy cô và bộ máy hành chính, người học là khách hàng chi trả dịch vụ.
Theo tinh thần đó, thầy cô được xem là một viên chức trong bộ máy cung cấp dịch vụ giáo dục, vì vậy pháp luật là công cụ cao nhất điều chỉnh hành vi giáo dục và mối quan hệ thầy, trò. Theo đó, đạo đức xã hội cũng cần được điểu chỉnh phù hợp với quan điểm của luật pháp. Mối quan hệ này trước hết cần đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, dân chủ, đồng thuận và có trọng tài.
Trong khu vực công lập, nhà trường và thầy cô chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, người học phải có bổn phận chấp hành các luật lệ liên quan đến dịch vụ giáo dục và rất nên được trao quyền hạn, hiểu quyền lợi của mình. Nhà nước và xã hội có trách nhiệm nâng cao thu nhập chính đáng và hợp pháp cho thầy cô.
Tôi cho rằng cần khuyến khích, thậm chí quy định sinh viên xưng "tôi" với thầy cô. Còn đối với học sinh các cấp, xưng "em" với thầy, cô như trước đây chúng ta vẫn làm.
Xã hội pháp quyền là những gì mà chúng ta đang nỗ lực xây dựng. Trong xã hội ấy, không thể và không nên lấy đạo đức hay nghi lễ điều chỉnh hành vi của công dân, với tư cách là chủ thể xã hội.